Helpex - Trao đổi & giúp đỡ Đăng nhập
4

Cty Sói năm nay phải lập BCTC 6 tháng.

Tại thời điểm 30/6/2009 có một khoản nợ vay ngân hàng trị giá 980.000.000.000

Lịch trả: đều đặn hàng tháng, mỗi tháng 1.000.000.000

Sói đang băng khoăn số dư 315 tại thời điểm 30/6 là bao nhiêu?!

6.000.000.000 hay là 12.000.000.000 ?!

Bác nào bít chỉ Sói với!

4 hữu ích 0 bình luận 38k xem chia sẻ
34 trả lời 34
4

Ðề: 315 - nợ dài hạn đến hạn trả tại thời điểm cuối KỲ.

Sói giả vờ phải ko? nhưng cũng trả lời vì đã gửi đường link cho mình. Hi vọng là có câu trả lời đúng.

Vay ở thời điểm nào ? đã trả được bao nhiêu rồi? số dư bên có của tk 315 sẽ là tổng số tiền 980ty trừ đi số tiền đã trả. Nếu trả được 6 tháng rồi thì còn 980-6 =974 ty

đúng ko bà con hầy, lâu lắm ko hạch toán tk này, vì cty mình chưa vay ai, chỉ dùng vốn nội bộ của TCT

4 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
2

Sai cơ bản!

2 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
2

Ðề: 315 - nợ dài hạn đến hạn trả tại thời điểm cuối KỲ.

em thấy khoản tiền trên là khoản vay dài hạn chứ đâu phải khoản nợ dài hạn mà lại trích nợ dài hạn đến hạn trả là sao ạ?

2 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
1

Nợ dài hạn đến hạn trả là khoản nợ mà theo hợp đồng phải trả trong kỳ nhưng đến cuối kỳ vẫn chưa trả.

Đó là khoản tiền mà chủ nợ có quyền "xiết nợ" bất cứ lúc nào . Vì thế phải ghi nó vào khoản mục nợ ngắn hạn.

Như thế đến khi khóa sổ 30/6 phải xem lại Cty đã trả nợ đúng hạn hay không, khoản thất hứa là bao nhiêu để ghi N341/C315.

Lịch trả: đều đặn hàng tháng, mỗi tháng 1.000.000.000

Nếu chưa trả đồng nào thì 315 là 6 tỷ.

SDCK = SDDK + SPS tăng - SPS giảm.

1 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
3

Ðề: 315 - nợ dài hạn đến hạn trả tại thời điểm cuối KỲ.

theo e thì nếu chưa trả sdtk315 là 6ty.nếu hàng tháng đã trả thì sdtk 315 là 1ty.

3 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
2

Sói thấy hình như bác đưa ra chưa đúng về thời gian.

2 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
1

Ðề: 315 - nợ dài hạn đến hạn trả tại thời điểm cuối KỲ.

Nợ dài hạn đến hạn trả là các khoản nợ dài hạn đã đến hạn phải trả cho chủ nợ trong niên độ kế toán hiện hành.

Cuối niên độ kế toán, doanh nghiệp phải căn cứ vào kế hoạch trả nợ dài hạn, xác định số nợ dài hạn đã đến hạn phải thanh toán trong niên độ kế toán tiếp theo và chuyển sang nợ dài hạn đến hạn trả.

theo mình hiểu thì cái phần màu đỏ ấy là tính cho cả năm tài chính, chứ không theo kỳ kế toán của doanh nghiệp.

do đó trong trường hợp của sói thì tui nghĩ cái khoản đó trên 315 phải là 12.000.000.000

1 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
6

phuongthu nói: ↑ Nợ dài hạn đến hạn trả là các khoản nợ dài hạn đã đến hạn phải trả cho chủ nợ trong niên độ kế toán hiện hành.

Cuối niên độ kế toán, doanh nghiệp phải căn cứ vào kế hoạch trả nợ dài hạn, xác định số nợ dài hạn đã đến hạn phải thanh toán trong niên độ kế toán tiếp theo và chuyển sang nợ dài hạn đến hạn trả.

theo mình hiểu thì cái phần màu đỏ ấy là tính cho cả năm tài chính, chứ không theo kỳ kế toán của doanh nghiệp.

do đó trong trường hợp của sói thì tui nghĩ cái khoản đó trên 315 phải là 12.000.000.000 Click to expand... Chỗ màu tím: nếu theo lý luận đó thì tại sao người ta lại quan tâm đến chỉ duy nhất 1 năm sau?

Tại sao lại không phải là " xác định số nợ dài hạn đã đến hạn phải thanh toán trong 2 niên độ kế toán tiếp theo "?

Ngoài ra trong câu của Phuongthu còn có chữ "đã". "Đã" nhưng mà là của năm sau. Vậy nghĩa là sao? Là "đã" hay "sắp"?

Tên gọi TK không có chữ "đã" nhưng vẫn hiểu là "đã đến hạn".

Mà "đã đến hạn" thì nó thuộc về quá khứ rồi.

Vậy TK này nói về nợ dài hạn đã đến hạn trả nhưng chưa trả được theo tiến độ của những năm trước + năm hiện hành.

6 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
1

tên tk là "nợ dài hạn đến hạn trả" tức là sắp tới đây dn phải trả khoản nợ đó.

tuy nhiên do không có tk "nợ quá hạn" cho nên bên nợ của tk 315 này cũng bao gồm cả các khoản nợ đến hạn trả trong niên độ nhưng dn chưa trả đc.

do đó, trường hợp của sói thì phần "nợ dài hạn đến hạn trả" phải được xác định ở cuối năm tài chính trước, và phải xác định là trong năm nay phải trả tất cả là 12.000.000.000

em đâu có nói sai gì đâu...T_T

1 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
4

Ack...

Tôi đã hỏi ở bài trước là: Tại sao "sắp đến hạn" lại chỉ giới hạn là 1 năm kế tiếp? Tại sao lại không phải là 2 hay 3 năm sắp đến?

Nếu theo suy diễn của Phuongthu thì tại sao TK315 không là 24 tỷ ?

Chỗ màu tím: chẳng lẽ chỉ tính 12 tỷ chứ không phải là "phải trả 980 tỷ" sao?

"Sắp tới đây", thì 12 năm tới cũng là "sắp tới đây" vậy.

Đời người như gió thoảng.

4 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
1

nhưng tới hai năm trở lên thì nó vẫn là nợ dài hạn đó thôi.

1 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
4

TSCĐ mà GTCL < 10tr hoặc thời gian sử dụng còn lại < 1 năm (dự kiến thanh lý ngay trong năm sau) => chuyển CCDC?

Câu trả lời của Phuongthu ở trên là khi phát sinh khoản nợ đó , nếu nó > 1 năm thì ghi vào nợ dài hạn.

Nhưng số dư nợ dài hạn vẫn là nợ dài hạn.

Số dư 242 thì vẫn là 242 (dù phần còn lại sẽ phân bổ hết trong năm kế sau)

TSCĐ đang sử dụng cũng thế.

Số dư 341 thì cứ để số dư, chuyển 315 làm gì.

Để như vậy cho người ta so sánh số đầu kỳ và số cuối kỳ.

4 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
3

Ðề: 315 - nợ dài hạn đến hạn trả tại thời điểm cuối KỲ.

bạn phải xác định tiền lãi rồi định khoản như sau:

nợ 315:số tiền phải trả trong tháng(1tr)

nợ 341:số tiền còn phải trả sau khi trả 1tr

nợ 635:tiền lãi

có 111,112.....

3 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
0

giả sử như cái khoản nợ dài hạn đó doanh nghiệp sẽ chi trả vào ngày cuối cùng của hạn vay, thì chỉ chuyển sang 315 ở thời điểm cuối năm trước đó (theo kế hoạch trả nợ).

chuyển sang 315 để dn còn biết đường mà trả nợ vì nó liên quan đến uy tín, trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp nữa (và còn rất nhiều vấn đề khác).\

mặt khác, khi chuyển thành nợ dài hạn đến hạn trả thì nó được coi là một khoản nợ ngắn hạn, nếu không phản ánh thì nó ảnh hưởng đến một số các chỉ tiêu tài chính, như là khả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán tức thời... và một số chỉ tiêu khác.... có thể dẫn đến hiểu lầm cho những người đọc báo cáo tài chính....

0 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
3

Ý của pác muontennguoi là cứ để nó ở TK 341. Vậy TK 315 thì phản ánh cái gì ạ? Pác giải thích rõ hơn giúp em nha.

3 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
0

Chắc người soạn thảo không để ý đến đoạn b ở trên. Tuy nhiên nếu có hạch toán như vậy thì khi trình bày báo cáo tài chính thì vẫn phải trình bày phần vay dài hạn đến hạn trả trong vòng 12 tháng tới vào nợ ngắn hạn (đối với các doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh ngắn) vì theo đoạn 44 của VAS 21:

44. Một khoản nợ phải trả được xếp vào loại nợ ngắn hạn, khi khoản nợ này:

a)Được dự kiến thanh toán trong một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp; hoặc

b)Được thanh toán trong vòng 12 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm. Click to expand... Như vậy theo các lập luận ở trên thì để thuận tiện cho việc hạch toán thì nên có bút toán kết chuyển từ 341 sang 315 trước khi lập báo cáo 6 tháng (nếu định kỳ báo cáo là 6 tháng thì 6 tháng kết chuyển một lần, số dư 315 là số nợ gốc phải thanh toán trong vòng 12 tháng tới). Tuy nhiên nếu không có bút toán kết chuyển đó thì khi trình bày báo cáo tài chính vẫn phải trình bày phần nợ dài hạn đến hạn trả (Current Maturities of Long-Term Debt )đối với khoản vay này trên báo cáo tài chính là 12.000.000.000.

0 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
5

Ðề: 315 - nợ dài hạn đến hạn trả tại thời điểm cuối KỲ.

Chắc Hientn hiểu nhầm chứ không phải người soạn hướng dẫn TK341 hiểu nhầm đâu.

Ở đoạn 48 đã nói: nếu kỳ hạn ban đầu là trên 12 tháng thì ghi vào nợ dài hạn.

Khoản nợ này là 980 tỷ chứ không phải là 6 hay 12 tỷ. Không được cắt nó ra thành nhiều mảnh nhỏ.

Và vì thế cũng không áp dụng đoạn 44 vào cái khúc 12 tỷ phải trả vào năm tới như là 1 khoản nợ riêng biệt.

Nó vẫn phải được thể hiện như là cấu thành của nguồn vốn dài hạn của DN.

Thông thường nợ dài hạn đến hạn trả là khoản nợ mà bạn chưa trả cho NH như cam kết ban đầu và nó sẽ bị tính theo lãi suất tương đương với nợ ngắn hạn.

Như vậy về chứng từ chứng minh thì cũng rất dễ nhận biết: Khi NH tính thêm lãi suất quá hạn.

5 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
5

Ðề: 315 - nợ dài hạn đến hạn trả tại thời điểm cuối KỲ.

TK 315 có tác dụng là dùng để theo dõi và nhắc kế toán nhớ mà trả những khoản tiền vay, các khoản nợ dài hạn đến hạn trả trong niên độ kế toán, và nó cấu thành chỉ tiêu nợ ngắn hạn của doanh nhiệp để phân tích cơ cấu nợ ngắn hạn và khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp. Nếu để toàn bộ nợ dài hạn trên 341 sẽ k phản ánh đúng thực chất cơ cấu nợ ngắn hạn của DN.

5 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
2

Ðề: 315 - nợ dài hạn đến hạn trả tại thời điểm cuối KỲ.

Sai trầm trọng .

Làm sao mà lấy tổng số tiền vay - tiền đã trả mà ra được 315 chứ , hehe

Hình như Sói hỏi đùa hay sao ấy ? Em thấy nếu không có chi tiết hơn thì không thể tính được. Khoản vay từ bao giờ ? đã trả lần nào chưa ? Vì Sói nói là trả đều đặn từng tháng nên khoản vay phải được xác định là từ bao giờ? Không thì tính làm sao được?

Với lại Sói hỏi số dư 315? Vậy còn khoản vay nào của Cty không? nếu còn vài khoản vay dài hạn nữa thì tính làm sao ra số dư đây?

2 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
5

Chỗ này em xin khẳng định với Bác là Vụ chế độ Kế toán và Kiểm toán hướng dẫn chưa đúng. Em đã hỏi Hội Kiểm toán viên hành nghề về vấn đề này và các bác ấy bảo là khi trình bày Báo cáo tài chính phải trình bày vay dài hạn đến hạn trả trong vòng 1 năm tới vào nợ dài hạn đến hạn trả.

48. Doanh nghiệp cần phải tiếp tục phân loại các khoản nợ chịu lãi dài hạn của mình vào loại nợ phải trả dài hạn, kể cả khi các khoản nợ này sẽ được thanh toán trong 12 tháng tới kể từ ngày kết thúc niên độ, nếu:

a) Kỳ hạn thanh toán ban đầu là trên 12 tháng;

b) Doanh nghiệp có ý định tái tài trợ các khoản nợ này trên cơ sở dài hạn và đã được chấp nhận bằng văn bản về việc tái tài trợ hoặc hoãn kỳ hạn thanh toán trước ngày báo cáo tài chính được phép phát hành. Click to expand...

Vấn đề là đoạn b của đoạn 48. Phải thoả mãn cả điều kiện a) và b) của đoạn 48 thì mới không phân loại vay dài hạn đến hạn trong vòng 12 tháng tới vào nợ dài hạn. Nếu vi phạm điều b) (thông thường rất ít khi xảy ra khoản b) thì không được phép phân loại khoản vay đến hạn trong vòng 12 tháng đó vào nợ dài hạn.

5 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
3

Nợ ngắn hạn đến hạn trả với kỳ 12 tháng.Mỗi tháng 1.000.000, 12 tháng 1.200.000.000 đến 30/06 rồi, tức đã hạch tóan đi

Nợ TK 315 6.000.000.000

Có TK tiền 6.000.000.000

Vậy giờ TK 315 còn 6.000.000 theo như bài.

3 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
5

Không hoàn toàn đồng ý với Hientn chỗ này.

Ta chỉ kết chuyển 12.000.000.000 sang 315 từ đầu năm tài chính. Nếu chưa kết chuyển thì lúc làm kiểm toán 6 tháng chỉ kết chuyển 6.000.000.000 mà thôi, đến lúc làm BCKT năm mới trích thêm 12.000.000.000.

5 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
4

Ðề: 315 - nợ dài hạn đến hạn trả tại thời điểm cuối KỲ.

Như anh VANSI em thấy cũng đúng..nhưng mà có biết vay từ tháng nào đâu anh? Mới lại chủ topic hỏi là số dư TK 315 mà anh? Nếu vậy công ty đã vay đến 980tỷ thì không lẽ không vay chỗ khác nữa sao ? Vậy số dư có lẽ lớn hơn nữa..

4 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
1

Ở chỗ chữ "phải" ở trên thì cần xem lại vì chưa thấy chứng cứ. Các bác ấy phải có chứng cứ mới được nói thế chứ.

Còn đoạn 48 thì điều kiện b) cũng không khó:

Tháng này đến hạn trả 1 tỷ nhưng ta chưa trả: NH đâu có đâm đơn phá sản hay mang tài sản thế chấp ra bán.

Thông thường điều khoản thanh toán sẽ là: nếu đến hạn hàng tháng mà chưa trả thì tính lãi suất phạt.

Nghĩa là NH vẫn chấp nhận cho nợ tiếp, điều đó thể hiện bằng văn bản khế ước vay.

1 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
1

Tại sao không đều đặn hàng tháng tính lại và hạch toán?

Tại sao phải đến khi lập BCTC mới tính?

1 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
3

Đúng là không biết là vay tháng nào, năm nào, nhưng như topic nói là trả hàng tháng 01 tháng 1.000.000, 12 tháng 12.000.000.Chủ topic chỉ hỏi là số dư TK 315 6 tỷ hay 12 tỷ thôi, 06 tháng kia đã trừ 6 tỷ, còn 06 tỷ trừ tiếp trong báo cáo mới 06 tháng cuối năm .

-----------------------------------------------------------------------------------------

Sư Tử Chúa nói: ↑ Không hoàn toàn đồng ý với Hientn chỗ này.

Ta chỉ kết chuyển 12.000.000.000 sang 315 từ đầu năm tài chính. Nếu chưa kết chuyển thì lúc làm kiểm toán 6 tháng chỉ kết chuyển 6.000.000.000 mà thôi, đến lúc làm BCKT năm mới trích thêm 12.000.000.000. Click to expand... Việc đưa vào TK 315 không phải dựa vào niên bộ báo cáo tài cính mà treo ở 01 năm -ngắn hạn.Chữ nợ ngắn hạn (12 tháng) đến hạn trả-hàng tháng đã nói lên vấn đề rồi.

Theo như anh sơn thì có tới 6 tháng trích, làm cái mới trích trước có hợp lý không ?

3 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
1

Tại sao thì bác Hientn đã nói ở trên.

Vấn đề nhập nhằng là do ta lý luận hợp lý hơn là Chế độ kế toán hướng dẫn: Nợ dài hạn đến hạn trả thì cứ đến hạn mới tính, kể cả trong tháng nhưng chưa đến ngày quy định thanh toán thì chưa được gọi là nợ đến hạn trả.

Cuối niên độ kế toán, doanh nghiệp phải căn cứ vào kế hoạch trả nợ dài hạn, xác định số nợ dài hạn đã đến hạn phải thanh toán trong niên độ kế toán tiếp theo và chuyển sang nợ dài hạn đến hạn trả. Click to expand... Do vậy số dư này nếu thể hiện trên BCĐKT thì không phản ánh đúng bản chất "thời điểm" của nó.

Tuy nhiên xét về yêu cầu quản lý, khi ta chuyển vào 315 có nghĩa là ta đã xác định một khoản vay dài hạn đã được chuyển sang ngắn hạn và phải thanh toán trong niên độ kế toán này.

Việc đưa vào TK 315 không phải dựa vào niên bộ báo cáo tài cính mà treo ở 01 năm -ngắn hạn.Chữ nợ ngắn hạn (12 tháng) đến hạn trả-hàng tháng đã nói lên vấn đề rồi.

Theo như anh sơn thì có tới 6 tháng trích, làm cái mới trích trước có hợp lý không ? Click to expand... Coi lại là theo niên độ kế toán hay theo 12 tháng nhé.

1 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
4

Chỗ này em cũng chưa đồng ý với Bác.

Số dư TK 315 luôn là 12.000.000.000. Vì sao?

- Khoản nợ dài hạn đến hạn trả trong vòng 12 tháng tới được hạch toán và trình bày là Nợ ngắn hạn.

- Nợ đến hạn trả trong 12 tháng tới = 12 x 1.000.000.000 = 12.000.000.000.

Chủ topic hỏi số dư TK 315: Tại bất kỳ thời điểm báo cáo nào trước khi khoản vay có số dư < 12.000.000.000 thì số dư TK 315 đều là 12.000.000.000. Bút toán kết chuyển thực hiện khi lập báo cáo tài chính thôi, tuỳ thuộc vào kỳ kế toán mà DN lựa chọn.

Ở chỗ chữ "phải" ở trên thì cần xem lại vì chưa thấy chứng cứ. Các bác ấy phải có chứng cứ mới được nói thế chứ. Click to expand... Thực ra nói câu này thì hơi quy kết về sơ suất của Vụ chế độ. Ngoài phân tích ở trên là các bác ấy chưa chú ý đến đoạn 48b), khi biên soạn QĐ 48 các bác ấy lại hướng dẫn kết chuyển sang 315.

4 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
2

Ý em khác bác:

Ở đây không hiểu nó là nợ ngắn hạn mặc dù bản chất và trình bày giống nhau , mà phải hiểu nó ở gốc độ chuyển từ vay dài hạn sang nợ đến hạn thanh toán trong niên độ kế toán hiện hành. Vì đâu niên độ không kết chuyển mà đến tháng sáu mới kết chuyển nên số nợ dài hạn đến hạn thanh toán chỉ là 6.000.000.000 thôi (từ tháng 6-12). 6 tỷ là số nợ đến hạn còn lại phai thanh toán trong niên độ, còn số dư thì tùy thuộc vào tình hình thanh toán nữa

2 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
1

Bác phải xem lại định nghĩa nợ ngắn hạn trong VAS 21:

4 4. Một khoản nợ phải trả được xếp vào loại nợ ngắn hạn, khi khoản nợ này:

a)Được dự kiến thanh toán trong một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp; hoặc

b)Được thanh toán trong vòng 12 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm. Click to expand... Như vậy nợ ngắn hạn (với các DN có chu kỳ kinh doanh ngắn) là khoản nợ được thanh toán trong vòng 12 tháng tới chứ không phải trong năm tài chính hiện hành.

1 hữu ích 0 bình luận chia sẻ
loading
Không tìm thấy câu trả lời bạn tìm kiếm? Duyệt qua các câu hỏi được gắn thẻ Phải thu - Phải trả Nghiệp vụ kế toán , hoặc hỏi câu hỏi của bạn.

Có thể bạn quan tâm

loading